banner
Chủ nhật, ngày 3 tháng 3 năm 2024
Một số khó khăn, bất cập trong thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Kon Tum - Đề xuất giải pháp khắc phục
16-5-2023

Kon Tum là tỉnh miền núi, biên giới, ở phía Bắc Tây Nguyên, có đường biên giới dài 292,522 km (giáp Lào 154,222 km, giáp Campuchia 138,3km). Diện tích tự nhiên gần 10.000 km2, chiếm khoảng 17,7% diện tích Tây Nguyên và chiếm 3,1% diện tích toàn quốc. Dân số toàn tỉnh khoảng 580 ngàn người, dân tộc thiểu số trên 312 ngàn người chiếm 54,93% với 43 dân tộc cùng sinh sống; trong đó, có 07 dân tộc tại chỗ, gồm: Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Gié-Triêng, Hrê, Brâu và Rơ Măm.

Toàn tỉnh có 09 huyện, 01 thành phố với 102 xã, phường thị trấn, trong đó có 52 xã khu vực III, 05 xã khu vực II, 35 xã khu vực I; có 92/102 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (chiếm 90,2%); 564/756 thôn, làng đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 74,6%); 371 thôn (làng) đặc biệt khó khăn; 13 xã biên giới; 03 huyện nghèo: Tu Mơ Rông, Kon Plong, Ia H’Drai là huyện nghèo giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 353/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tính đến cuối năm 2022, hộ nghèo toàn tỉnh còn 15.943 hộ, chiếm tỷ lệ 10,86% so với tổng số hộ dân toàn tỉnh; trong đó, có 15.215 hộ nghèo dân tộc thiểu số, số hộ thoát nghèo đạt 6.781 hộ, tương ứng tỷ lệ giảm hộ nghèo là 4,46%.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Hầu A Lềnh và Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Nông Quốc Tuấn thăm hỏi, động viên đồng bào DTTS tại xã Đăk Pne,huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum- năm 2022

Giai đoạn vừa qua, được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương, nhiều chương trình, chính sách dân tộc đã được đầu tư, hỗ trợ trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là ở các xã vùng sâu  vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Việc triển  khai thực hiện các chương trình chính sách dân tộc luôn được sự quan tâm, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp; công tác phối hợp tuyên truyền, giám sát, phản biện của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội; sự nhiệt tình, đồng thuận tham gia thực  hiện của người dân... Qua đó, tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi đã có những chuyển biến rõ rệt, có những bước phát triển tiến bộ, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở nhiều vùng được nâng lên; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội thiết yếu đã được quan tâm đầu tư, hoàn thiện; đến cuối năm 2022, toàn tỉnh đã có 42 xã cơ bản đạt chuẩn 19/19 tiêu chí (trong đó có 36 xã đã được công nhận đạt chuẩn xã nông thôn mới), 10 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 32 xã đạt từ 10-14 tiêu chí, 01 xã đạt 07 tiêu chí (không có xã đạt chuẩn dưới 7 tiêu chí). Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu không ngừng được cải thiện, số trẻ em, học sinh huy động ra lớp đạt 99,7%; 100% trạm y tế đã có bác sỹ; 99% xã trên toàn tỉnh đã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã. Tỷ lệ số dân nông thôn được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 92,1%. Tỉnh đã ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất, quan tâm và tạo điều kiện cho các hộ nghèo vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, thu nhập của nhóm hộ nghèo ở nông thôn đang dần được cải thiện, ổn định nâng cao đời sống, các mô hình giảm nghèo được nhân rộng; văn hóa, đời sống các dân tộc thiểu số được quan tâm; tự do, tín ngưỡng được đảm bảo; giáo dục và đào tạo có sự chuyển biến tiến bộ; công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng; dịch bệnh được kiểm soát; an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng; công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất và đời sống được đẩy mạnh; quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị xã hội ổn định...

Mặc dù kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước phát triển mạnh trong những năm qua, bộ mặt nông thôn miền núi có nhiều đổi thay tích cực. Nhưng do xuất phát điểm của tỉnh thấp nên đến nay đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực nông thôn, các xã đặc biệt khó khăn hạ tầng kinh tế-xã hội còn nhiều hạn chế; kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp chưa mang tính hàng hóa, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số chưa thực sự đảm bảo và thiếu tính bền vững, chưa có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội. Tỷ lệ nghèo giảm nhưng nguy cơ tái nghèo cao, chất lượng nguồn nhân lực thấp, đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập; còn một số hạn chế về bình đẳng giới; còn tồn tại hủ tục lạc hậu tảo hôn, tục ma chay cưới xin, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội; lề lối, tác phong, tập quán canh tác của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn định an ninh chính trị; khoảng cách phát triển kinh tế-xã hội giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn trong đồng bào dân tộc thiểu số và giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh chưa được rút ngắn. Một số khó khăn hạn chế có tác động sâu sắc đến bộ mặt nông thôn và đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khoảng cách phát triển giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc Kinh, giữa các nhóm dân tộc thiểu số chưa được rút ngắn. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất trên địa bàn; tỷ lệ hộ dân số dân tộc thiểu chiếm trên 54%  số hộ trên địa bàn tỉnh nhưng tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm trên 90% số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh tổng số hộ nghèo của cả tỉnh. Một số vấn đề bức thiết trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số như:  thiếu nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt,...chưa được giải quyết có hiệu quả, đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn; còn trên 7% số hộ dân tộc thiểu số chưa được tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh; còn 17,2%  hộ gia đình người dân tộc thiểu số ở nhà tạm; 37,9% số hộ dân tộc thiểu số chưa có nhà xí hợp vệ sinh,…

Chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh tuy đã được nâng lên nhưng so với mặt bằng chung vẫn còn thấp, mức độ tiếp cận các dịch vụ còn nhiều khó khăn; tỷ lệ được cấp thẻ bảo hiểm y tế cao nhưng tỷ lệ khám, chữa bệnh bằng thẻ còn thấp, tỷ lệ trẻ em người dân tộc thiểu số suy dinh dưỡng còn cao; tầm vóc thể trạng người dân tộc thiểu số chưa được cải thiện; dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống của nhiều dân tộc thiểu số chỉ được phục dựng khi lễ hội, ít được diễn ra trong đời sống hàng ngày. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước chưa đảm bảo tỷ lệ theo quy định tại Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 01 tháng 03 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Còn tồn tại hủ tục lạc hậu, một số tệ nạn xã hội như nghiện hút, buôn bán và vận chuyển trái phép ma túy ... là những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định an ninh trật tự vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các nguyên nhân của hạn chế, bất cập đó là:

* Về nguyên nhân khách quan

Xuất phát điểm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thấp, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, chất lượng nguồn nhân lực thấp; rất khó khăn trong việc thu hút đầu tư; cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu việc làm, đói nghèo, thiên tai, bệnh tật thường xảy ra và đang là thách thức lớn.

Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, thiên tai, bão lũ ảnh hưởng rất lớn đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sinh sống như: tình trạng sạt lở đất, lũ ống, lũ quét, hạn hán... làm cho đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đã khó khăn lại càng khó khăn thêm.

Nhu cầu về đầu tư cơ sở hạ tầng lớn trong huy nguồn lực thực hiện chính sách còn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế, dẫn đến việc một số chính sách được ban hành nhưng không được phân bổ vốn để thực hiện (tình trạng này rất phổ biến với các chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng hay chính sách cần nguồn vốn lớn)

Các thế lực thù địch liên tục lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là những khó khăn về kinh tế của đất nước, an ninh chính trị vùng dân tộc thiểu số vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất ổn về an ninh, trật tự.

* Về nguyên nhân chủ quan

Hệ thống chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa thực sự đồng bộ; cơ chế thực thi chính sách còn thiếu những đổi mới mang tính đột phá; văn bản hướng dẫn của một số Bộ, ngành về địa bàn thực hiện chính sách có điểm chưa thống nhất, chưa phù hợp với tình hình thực tế.

Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn kinh tế-xã hội khó khăn  và đặc biệt khó khăn; ngân sách địa phương chưa tự cân đối được, chủ yếu nhận hỗ trợ ngân sách từ Trung ương, khó có thể lồng ghép các chương trình, dự án để thực hiện chính sách dân tộc, trong khi đó ngân sách Trung ương chưa bố trí được nguồn vốn riêng để thực hiện một số chính sách, do vậy không đạt được mục tiêu các đề án, chính sách đã được phê duyệt.

Phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo trình độ phát triển còn nhiều bất cập; định mức đầu tư còn thấp (về cơ sở hạ tầng, một năm xã 135 được đầu tư 1 tỷ đồng, thôn đặc biệt khó khăn được đầu tư 200 triệu đồng); chưa có dòng ngân sách riêng để thực hiện chính sách dân tộc, do vậy đề án, chính sách nhiều nhưng thiếu nguồn lực thực hiện nên chưa đạt được mục tiêu đề ra.

Bộ máy theo dõi công tác dân tộc thiếu ổn định, thống nhất tại cơ sở; thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu đầy đủ mang tính liên tục, kịp thời để phục vụ theo dõi, quản lý và tham mưu chính sách. Mặt khác, việc tổ chức thực hiện các chính sách trên vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều đầu mối quản lý, theo dõi, tổ chức thực hiện trên cùng địa bàn; công tác phối hợp giữa các Sở, ngành trong xây dựng và phân bổ nguồn lực, kiểm tra đánh giá của một số chính sách chưa chặt chẽ.

Qua đánh giá chung về thành tựu, khó khăn, hạn chế, bất cập về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh thời gian vừa qua, trong giai đoạn 2021-2025 triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Kon Tum xác định mục tiêu, đó là:

Về mục tiêu tổng quát: Khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững, thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân của vùng so với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; quy hoạch, sắp xếp, bố trí ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển; phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa; cải thiện rõ rệt đời sống của Nhân dân; nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số đi đôi với xóa bỏ phong tục tập quán lạc hậu; thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.

          Về mục tiêu cụ thể:

(1) Giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giai đoạn 2022-2025 vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 4%.

(2) Xã ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn 25 xã; tỷ lệ xã ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn 48,1%.

(3) Thôn ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn 21 thôn; tỷ lệ thôn ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn 51,2%.

(4) Phấn đấu mức thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số tăng trên 2 lần so với năm 2020.

(5) 70% thôn, làng có đường ô tô đến trung tâm cứng hóa; 99,8% hộ dân tộc thiểu số sử dụng điện lưới Quốc gia; trên 90% hộ dân tộc thiểu số sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% người dân tộc thiểu số được nghe đài phát thanh và xem truyền hình.

(6) Cơ bản hoàn thành công tác bố trí sắp xếp ổn định dân cư vùng đặc biệt khó khăn, thiên tai sạt lở.

(7) Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt 99,9%; học sinh dân tộc thiểu trong độ tuổi học tiểu học đạt 99,9%; trung học cơ sở đạt 96,6%; học trung học phổ thông đạt 40%.

(8) Tăng cường công tác y tế để đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại; tiếp tục khống chế tiến tới loại bỏ dịch bệnh ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; đảm bảo người dân tộc thiểu số thuộc đối tượng được ngân sách Nhà nước đóng và hỗ trợ bảo hiểm y tế được cấp, đổi thẻ bảo hiểm y tế.

(9) Đào tạo nghề đạt 44%; trong đó, 70 % tỷ lệ người dân tộc thiểu số được đào tạo nghề.

(10) Bảo tồn, phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; 100% thôn, làng có nhà Rông truyền thống được sửa chữa, trùng tu định kỳ; 10% thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng;

(11) 100% hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh có đất ở, đất sản xuất; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số;

(12) 50% số thôn, làng đồng bào dân tộc thiểu số đạt chuẩn thôn nông thôn mới.

(13) Đảm bảo tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số phù hợp với tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số ở từng địa phương.

(14) Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo ổn định an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.

Để thực hiện thành công các mục tiêu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Kon Tum, giai đoạn 2021-2025, đề xuất 8 nhóm giải pháp cụ thể như sau:

Một là, giải pháp về công tác quản lý, tổ chức thực hiện; tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng mục tiêu của Chương trình và mục tiêu, chỉ tiêu theo Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về lãnh đạo thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp và người dân tộc thiểu số nhằm thay đổi và chuyển biến nhận thức trong công tác dân tộc, chính sách dân tộc, giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; khơi dậy ý chí chủ động, vươn lên của người dân tộc thiểu số, nhất là người dân tộc thiểu số nghèo.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; thường xuyên giám sát, phản biện đối với việc ban hành và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Hai là, giải pháp về cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ: Thực hiện cơ chế hỗ trợ tạo sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo thông qua dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt dựa trên quy hoạch, kế hoạch, đề án chuyển đổi cơ cấu sản xuất của địa phương; ưu tiên hỗ trợ cho các hộ dân tộc thiểu số là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tự nguyên đăng ký tham gia dự án thông qua nhóm hộ, cộng đồng.

Ba là, giải pháp về tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung đầu tư cứng hóa hệ thống đường giao thông đến các xã; đường liên xã, liên xóm và kết nối các xã thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn với nhau. Ưu tiên cho các tuyến đường kết nối với các khu vực có tiềm năng phát triển để tập trung đầu tư trước.

Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, phòng chống thiên tai phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp; lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn để đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình cấp nước sạch tập trung cho các xã vùng dân tộc thiểu số; thúc đẩy triển khai đầu tư cải tạo lưới điện, đảm bảo cung ứng điện một cách tốt nhất với chất lượng phục vụ ngày càng cao đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho sản xuất và đời sống của người dân. Đầu tư, nâng cấp, cải tạo các chợ tại các xã vùng dân tộc thiểu số nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân.

Huy động các nguồn lực để bảo tồn, tôn tạo và phát huy bản sắc văn hóa đặc sắc, đặc trưng của các dân tộc thiểu số tại chỗ trong tỉnh gắn với phát triển du lịch; đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho thiết chế văn hóa cơ sở. Đảm bảo điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ dạy và học, củng cố nâng cao chất lượng đào tạo trong hệ thống Trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, thực hiện tốt đề án nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số. Đầu tư, nâng cấp, cải tạo cho các trạm y tế vùng dân tộc thiểu số để đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào.

Bốn là, gải pháp về cải thiện điều kiện sinh kế; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số

Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiếu số, nhất là các vùng có khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn để đồng bào có đủ điều kiện sinh kế, yên tâm sản xuất từng bước nâng cao đời sống.

Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề lao động nông nghiệp. Thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; phát triển liên kết, hợp tác sản xuất theo chuỗi, phát triển công nghiệp chế biến. Thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tìm kiếm, hợp tác với nhà đầu tư có năng lực để triển khai liên kết sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ.

Tiếp tục thực hiện chính sách nghiên cứu ứng dụng, hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt chú trọng việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao trong các dự án sản xuất theo chuỗi giá trị, các vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa gắn trực tiếp với đồng bào dân tộc. Khuyến khích thành lập và phát triển các hợp tác xã, mô hình khởi nghiệp tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời nghiên cứu, triển khai xây dựng các mô hình, dự án khoa học và công nghệ về sinh kế, văn hóa, xã hội phù hợp và hiệu quả dựa trên nền tảng tri thức, văn hóa truyền thống kết hợp với tri thức, khoa học công nghệ hiện đại.

Bảo vệ diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng hiện có, trồng rừng mới tăng độ che phủ, giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái, phát triển lâm nghiệp theo hướng xã hội, quản lý rừng bằng cộng đồng.

Năm là, giải pháp về nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, y tế; bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số

Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách cho người dạy, người học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đối với học sinh trường nội trú, bán trú; dạy và học tiếng dân tộc; chính sách đối với học sinh, sinh viên hệ cử tuyển. Thực hiện có hiệu quả đề án giáo dục dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Tăng cường lãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh góp phần nâng cao sức khỏe đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm nâng cao thể chất lẫn tinh thần, nâng cao thể trạng tầm vóc, tuổi thọ cũng như chất lượng cuộc sống. Chăm lo phát triển về chất lượng, quy mô, cơ cấu dân số, duy trì vững chắc mức sinh thay thế , đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiếu số để nâng cao chất lượng dân số; quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới, phụ nữ và trẻ em.

Huy động các nguồn lực để bảo tồn, tôn tạo và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc, đặc trưng của các dân tộc thiểu số tại chỗ trong tỉnh gắn với phát triển du lịch. Các cơ quan, đơn vị chức năng phối hợp chặt chẽ thực hiện đầu tư, hỗ trợ về cơ sở vật chất nhằm nâng cao đời sống văn hóa nhân dân, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, khuyến khích và quảng bá các loại hình du lịch bản địa, các sản phẩm văn hóa truyền thống. Nâng cao hiệu quả cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, khu đô thị văn minh”.

 Sáu là, giải pháp về phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm, đảm bảo các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội

Tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích thu hút trí thức trẻ, cán bộ chuyên môn kỹ thuật về công tác tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; có chính sách ưu tiên phù hợp trong đào tạo nhân lực và sử dụng cán bộ, đào tạo cán bộ nguồn cho xã, thôn là con em các dân tộc sinh sống trên địa bàn.

Tiếp tục thực hiện chính sách luân chuyển có thời hạn đối với cán bộ, công chức ở cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện về các huyện, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để giúp cơ sở thực hiện tốt hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng ở địa phương. Nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, cộng đồng, tạo điều kiện để cộng đồng tham gia có hiệu quả vào việc lập kế hoạch, giám sát hoạt động về đầu tư, hỗ trợ các Chương trình, dự án, chính sách trên địa bàn.

Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề cho đồng bào các dân tộc thiểu số, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp để triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo bền vững lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh. Đánh giá thực chất, cụ thể, sát thực, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện điều tra đánh giá hộ nghèo, cận nghèo. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và bảo trợ xã hội; đảm bảo thực hiện tốt các nhóm quyền của trẻ em, hạn chế các vụ tai nạn thương tích, đuối nước, các vụ xâm hại, bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em.

Bảy là, giải pháp về đảm bảo an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thực hiện tốt công tác biểu dương, tôn vinh điển hình tiên tiến, phát huy vai trò của người có uy tín; phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào; truyền thông phục vụ tổ chức triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực quân sự, quốc phòng để nâng cao ý thức cảnh giác cho Nhân dân trước âm mưu, luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đẩy mạnh công tác phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tập trung chỉ đạo giải quyết đúng pháp luật các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đồng bào dân tộc không để xảy ra điểm nóng.

Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên và toàn dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chủ trương phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm mọi quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương phải gắn với quốc phòng, an ninh.

Tăng cường phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Vận động đồng bào dân tộc phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc, ý thức tự lực tự cường, tinh thần tự lực vươn lên, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Chú trọng sơ kết, tổng kết, nhân rộng những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, các mô hình sản xuất, kinh doanh, xóa đói giảm nghèo có hiệu quả trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Tám là, giải pháp về nguồn lực tài chính

Huy động mọi nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư, lồng ghép các Chương trình, dự án trên địa bàn để phát huy hiệu quả tổng hợp, đồng bộ từ các nguồn vốn. Phân bổ hợp lý các nguồn vốn theo địa bàn cụ thể, tăng chi đầu tư phát triển, hỗ trợ để tăng vốn tín dụng chính sách và có giải pháp huy động hợp lý các nguồn vốn ODA, vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, vốn xã hội hóa cho Chương trình. Trong đó vốn ngân sách nhà nước (ngân sách Trung ương; ngân sách địa phương) là chủ yếu, quan trọng và có ý nghĩa quyết định, tạo điều kiện thuận lợi để huy động và thu hút các nguồn vốn khác (vốn tín dụng chính sách; vốn ODA, viện trợ; vốn doanh nghiệp; vốn đóng góp của cộng đồng và người dân). Xác định trọng tâm, trọng điểm của từng Chương trình mục tiêu Quốc gia, chương trình, dự án, chính sách khác để đầu tư, hỗ trợ nhằm giải quyết các khó khăn về kết cấu hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất để tạo thuận lợi về điều kiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Tăng cường công tác vận động các tổ chức quốc tế quan tâm viện trợ, tài trợ nguồn vốn để hỗ trợ cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh. Có các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào vùng khó khăn, ưu tiên những dự án có sử dụng nhiều lao động tại chỗ, hoặc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số tại chỗ.

Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng ưu đãi, theo hướng mở rộng đối tượng vay đến các dự án sản xuất, kinh doanh tạo sinh kế cho đồng bào; đảm bảo vốn tín dụng chính sách để hộ dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống.

Thanh Phước

Số lượt xem:20252
Bài viết liên quan:
THÔNG BÁO
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH KON TUM

LIÊN KẾT WEBSITE

Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc thuộc Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum 
Quản lý và nhập tin: Ban Dân tộc, số 163 - Bà Triệu - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum 
Người chịu trách nhiệm chính: Ông Đinh Quốc Tuấn - Trưởng Ban. 
Điện thoại: 02603.866.127 - Fax: 02603.866.127 - Email: bandantoc-kontum@chinhphu.vn.
                   Ghi rõ nguồn "Trang Thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum" hoặc "bandantoc.kontum.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này. 

3693607 Tổng số người truy cập: 38 Số người online:
Phát triển:TNC